Các mỏ dầu Việt Nam đang cạn kiệt?

Đại diện Petrovietnam cho biết, các mỏ khai thác dầu chính tại Việt Nam hiện đều ở giai đoạn suy giảm tự nhiên.
Sputnik
Trong khi đó, việc đưa các mỏ mới vào khai thác nhằm tạo đột phá về sản lượng cũng gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khách quan.

Thiếu hợp đồng dầu khí mới

Theo Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) Lê Ngọc Sơn, từ năm 2016 đến 2021, số hợp đồng dầu khí ký kết mới trong nước thấp hơn số lượng hợp đồng kết thúc.
Đáng chú ý, từ năm 2018 đến nay, chỉ có duy nhất 1 hợp đồng mới được ký kết. Số lượng giếng thăm dò khai thác cũng không được như kỳ vọng. Trong giai đoạn này, gia tăng trữ lượng trung bình chỉ khoảng 12,6 triệu tấn/năm, đạt 55% so với sản lượng khai thác. Trong khi đó, trên lý thuyết, muốn hoạt động ổn định và phát triển, con số này phải từ 100% đến 120%.
"Điều đó có nghĩa là trong suốt thời gian qua, chúng ta đang khai thác lạm vào quỹ trữ lượng đã có trong quá khứ", - ông Sơn nhận định.
Việc hệ số bù trữ lượng không đạt kỳ vọng đã ảnh hưởng tiêu cực đến mục tiêu phát triển của lĩnh vực thăm dò tìm kiếm dầu khí, nhất là khi không có những giải pháp mang tính đột phá chiến lược.
Trong năm 2022, chỉ tiêu gia tăng trữ lượng của ngành dầu khí đạt 16,97 triệu tấn quy dầu, bằng 63% so với sản lượng khai thác trong năm. Đây cũng là kết quả đáng khích lệ so với giai đoạn 2016-2021, cho thấy sự cố gắng rất lớn của Petrovietnam và các nhà thầu.
Mặc dù vậy, những khó khăn vẫn còn rất nhiều, bởi gia tăng trữ lượng trên chủ yếu đến từ những khu vực tận thăm dò và hầu như không có ở các khu vực mới.
Kết quả trên một phần đến từ việc số lượng các hợp đồng dầu khí được ký mới rất hạn chế trong thời gian qua. Thêm vào đó, do không có dự án mới ở nước ngoài nên việc gia tăng trữ lượng tại các lô hợp đồng ở nước ngoài cũng gần như bằng không.

Suy giảm sản lượng tự nhiên

Theo ghi nhận của Petrovietnam, hiện tổng trữ lượng đã phát hiện trong nước là 1,5 tỷ m3 quy dầu. Trong đó, lượng khai thác đạt khoảng 50%. Trong 50% phần còn lại thì có tới 3/4 là khí và 1/4 là dầu.
Đối với phần trữ lượng còn lại này, các mỏ đang khai thác chiếm 30%, trữ lượng từ các dự án trọng điểm (Lô B và Cá Voi Xanh) chiếm 30%. Còn lại 40% là từ các mỏ nhỏ hoặc cận biên, chưa đủ điều kiện kinh tế để triển khai.
"Tiềm năng dầu khí còn lại khoảng 1,5-2 tỷ m3 quy dầu, nhưng 50% tiềm năng lại ở vùng nước sâu xa bờ rất khó triển khai, trong đó tiềm năng khí cũng chiếm tới 70%. Như vậy, việc duy trì được sản lượng dầu, thúc đẩy tăng sản lượng khí là một thách thức rất lớn trong năm 2023 và các năm tiếp theo", - đại diện Petrovietnam chia sẻ.
Về sản lượng dầu, các mỏ khai thác chính đều ở giai đoạn suy giảm tự nhiên, dẫn đến sản lượng khai thác dầu trong nước giai đoạn 2016-2020 suy giảm khoảng 11%/năm.
Năm 2021, tốc độ suy giảm còn khoảng 6,8%. Năm 2022, tốc đột suy giảm là khoảng 1%, với tổng sản lượng khai thác dầu trong nước đạt 8,98 triệu tấn.
Đây là nỗ lực rất lớn của Petrovietnam trong việc tận dụng cơ hội thị trường, áp dụng các giải pháp quản trị và công nghệ, tích cực xây dựng và đưa các công trình bổ sung, giếng bổ sung vào khai thác, triển khai rà soát, bắn vỉa và khai thác các phụ vỉa.
Ngoài dầu khí, các mỏ khí chủ lực hiện trong giai đoạn suy giảm tự nhiên. Đặc biệt, mỏ khí lớn nhất ở Lô 06.1 đã suy giảm từ mức 2,1 tỷ m3 năm 2021, xuống còn 0,9 tỷ m3 năm 2023. Nhiều khả năng, doanh nghiệp sẽ phải tạm dừng khai thác vào năm 2024 nếu không kịp triển khai tận thăm dò, khai thác ở khu vực này. Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến việc cung cấp khí cho vùng Đông Nam Bộ.
Bên cạnh đó, việc thúc đẩy phát triển các dự án khí lớn như Lô B, Cá Voi Xanh cũng gặp phải một số khó khăn
Trong phần trữ lượng đã phát hiện chưa khai thác, trữ lượng từ các dự án khí lớn như Lô B, Cá Voi Xanh chiếm tới 30%, bằng với trữ lượng còn lại của các mỏ đang khai thác.
Do đây đều là các dự án khí lớn, việc phát triển các dự án này mang đến hiệu quả và lợi ích tổng thể cao. Tuy nhiên, việc phát triển chuỗi các dự án khí điện như Dự án khí Lô B và Cá Voi Xanh cần những cơ chế đồng bộ cho thị trường khí và điện.
Trên thực tế, hiện vẫn chưa có các cơ chế mới được đưa ra, nên chưa thể triển khai được dự án. Điều này sẽ ảnh hưởng lớn tới việc bù đắp sản lượng trong thời gian tới. Nếu tình trạng kéo dài, sẽ rất khó có thể triển khai các dự án trong tương lai.
Petrovietnam lo ngại trước căng thẳng Nga - Ukraina

Còn nhiều bất cập chưa được giải quyết

Theo lãnh đạo Petrovietnam, các giải pháp đưa ra đến nay chỉ phần nào giảm đà suy giảm sản lượng và có tính ngắn hạn. Để chặn đứng đà suy giảm, cần đưa các mỏ mới vào khai thác nhằm tạo đột phá về sản lượng.
Để ổn định sản lượng khai thác dầu, Petrovietnam đang thực hiện chiến lược tìm kiếm các cơ hội đầu tư ở nước ngoài. Dù đã đạt những kết quả nhất định, việc triển khai gần đây cũng gặp nhiều thách thức.
Bên cạnh những biến động chính trị trên thế giới, khung pháp lý đầu tư dự án dầu khí ra nước ngoài cũng còn nhiều hạn chế và bất cập mà đến nay vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, nhiều công ty dầu khí quốc tế đã điều chỉnh chiến lược hoạt động tìm kiếm, thăm dò. Cùng với đó, các định chế tài chính thắt chặt nguồn vay cho các dự án liên quan đến năng lượng hóa thạch đã ảnh hưởng không nhỏ tới các dự án dầu khí tại Việt Nam.

"Các phát hiện dầu khí/mỏ dầu khí tại Việt Nam cần thúc đẩy sớm để khai thác trong khoảng thời gian trước năm 2030, nhằm tối ưu khai thác nguồn tài nguyên đất nước, tạo ra nguồn lực để phát triển các ngành kinh tế khác", - Phó Tổng giám đốc Petrovietnam cho hay.

Hiện tại, điều được mong chờ nhất là các hướng dẫn nhằm thực hiện Luật Dầu khí số 12/2022/QH15. Luật này sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2023.
""Những quy định/chính sách đột phá, tiến bộ của Luật Dầu khí mới phải được cụ thể, chi tiết hóa trong các văn bản dưới luật có liên quan, nhằm đảm bảo tính đồng bộ, đầy đủ, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho hoạt động dầu khí; đưa ra được các giải pháp hiệu quả để giải quyết triệt để những vướng mắc về phân cấp quyết định đầu tư", - ông Lê Ngọc Sơn nói.
Thảo luận