Chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraina

BQP Nga chuẩn bị thuyết trình về các phòng thí nghiệm sinh học Hoa Kỳ ở các nước khác

Tối 11 tháng 3, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc họp phiên đặc biệt, được triệu tập theo yêu cầu của Nga để thảo luận về hoạt động sinh học-quân sự của Hoa Kỳ tại Ukraina. Nguyên nhân khiến Matxcơva lo ngại là các tài liệu mà Bộ Quốc phòng Nga nắm được, theo đó phía Mỹ đã thành lập mạng lưới các phòng thí nghiệm sinh học trên lãnh thổ Ukraina.
Sputnik
Cơ quan quân sự Nga xác định rằng tại các chủ thể này tiến hành những thí nghiệm sinh học nguy hiểm nhằm mục đích thúc đẩy tăng mạnh mầm mống nhiều căn bệnh chết người khác nhau.
Liên Hợp Quốc bác bỏ tố cáo của Nga về việc lập ra ở Ukraina «các phòng thí nghiệm vũ khí sinh học», đồng thời nói thêm rằng không có bằng chứng xác thực nào cho nên có thể xem cáo buộc của Nga là vô căn cứ.
Các nước thành viên tổ chức thế giới gọi luận điểm của Nga về vũ khí sinh học ở Ukraina là «dối trá» và «hoàn toàn vô nghĩa».
Tại cuộc họp Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Washington và các đồng minh của Mỹ tố ngược rằng Nga đã phát tán cáo buộc không có chứng cứ xác thực. Các nhà ngoại giao tuyên bố rằng đây có thể là sự chuẩn bị dọn đường cho Matxcơva tiến hành những cuộc tấn công sinh học hoặc hóa học.
"Không phải tự nhiên Mỹ bắt đầu ngại ngùng". Chuyên gia nói về phòng thí nghiệm sinh học ở Ukraina

Hoa Kỳ xác nhận hiện diện các chủ thể nghiên cứu sinh học ở Ukraina

Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ phụ trách các vấn đề chính trị là Victoria Nuland khẳng định rằng hiện có các chủ thể nghiên cứu sinh học ở Ukraina và Hoa Kỳ luôn nỗ lực để ngăn không cho hoạt động của các cơ sở này vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Bà Thứ trưởng tuyên bố như vậy khi phát biểu tại phiên điều trần ở Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện Quốc hội Hoa Kỳ, để trả lời cho câu hỏi - liệu có chăng vũ khí hóa học ở Ukraina?
Victoria Nuland

Hoạt động của các phòng thí nghiệm sinh học trên lãnh thổ Ukraina

Hoa Kỳ thường xuyên điều chế các loại virus, vi khuẩn và chất độc chết người, vi phạm trực tiếp Công ước của Liên Hợp Quốc về cấm vũ khí sinh học. Theo cách thức chủ ý có hệ thống, hàng trăm nghìn người chịu tác động từ các mầm bệnh nguy hiểm và những căn bệnh nan y khác. Các chuyên gia trong lĩnh vực chiến tranh sinh học sử dụng vỏ bọc ngoại giao đang thử nghiệm virus nhân tạo trong các phòng thí nghiệm sinh học của Lầu Năm Góc ở 25 nước trên thế giới.
Các phòng thí nghiệm sinh học này của Hoa Kỳ nhận tài trợ của Cơ quan Giảm thiểu Đe dọa An ninh (DTRA) trong khuôn khổ chương trình quân sự trị giá 2,1 tỷ USD - Chương trình phối hợp tương tác sinh học (CBEP), bố trí tại các nước thuộc Liên Xô cũ như Gruzia và Ukraina, tại Trung Đông, Đông Nam Á và Châu Phi.
Theo dữ liệu của nhiều nguồn khác nhau, Cơ quan Giảm thiểu Đe dọa An ninh (DTRA) cấp tài trợ cho khoảng 15 phòng thí nghiệm sinh học ở Ukraina.
Dữ liệu hiện có về 10 phòng thí nghiệm trong số này:
1.
Trung tâm thí nghiệm Khu vực Ternopil, thành phố Ternopil, số 13 phố Fedkovicha.
2.
Phòng thí nghiệm chẩn đoán Kherson (Trung tâm thí nghiệm khu vực Kherson), thành phố Kherson, số 3 phố Uvarova.
3.
Viện Thú y thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Quốc gia Ukraina
4.
Phòng thí nghiệm chẩn đoán Vinnitsa (Trung tâm thí nghiệm khu vực Vinnitsa), thành phố Vinnitsa, số 11 phố Malinovskaya.
5.
Phòng thí nghiệm chẩn đoán Zakarpatsk (Trung tâm thí nghiệm khu vực Zakarpatsk), thành phố Uzhgorod, số 96 phố Sobranetskaya.
6.
Phòng thí nghiệm chẩn đoán Dnepropetrovsk (Trung tâm thí nghiệm khu vực Dnepropetrovsk), thành phố Dnepropetrovsk, số 26 phố Schmidt, số 39A phố Filosovskaya.
7.
Phòng thí nghiệm thú y quốc gia khu vực Dnepropetrovsk, thành phố Dnepropetrovsk, số 48 đại lộ Kirov.
8.
Viện Nghiên cứu Dịch tễ và Vệ sinh Lvov thuộc Bộ Y tế Ukraina, thành phố Lvov, số 12 phố Zelenaya.
9.
Phòng thí nghiệm thú y quốc gia khu vực Lvov, thành phố Lvov, số 7 phố Promyslovaya.
10.
Phòng thí nghiệm chẩn đoán Lvov (Trung tâm thí nghiệm khu vực Lvov), thành phố Lvov, số 27 phố Krupyarskaya.
Theo thỏa thuận năm 2005 giữa Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và Bộ Y tế Ukraina, chính quyền địa phương bị cấm ngặt không được tiết lộ thông tin «nhạy cảm» về chương trình của Mỹ và Ukraina nhất thiết phải chuyển giao cho Lầu Năm Góc các mầm bệnh nguy hiểm dành để nghiên cứu sinh học. Hơn thế nữa, cơ quan quân sự Hoa Kỳ đã tiếp cận được bí mật quốc gia của đất nước, gắn với những dự án đang triển khai.
Chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraina
Quân đội Mỹ đã thử nghiệm vũ khí sinh học trên người Ukraina. Mục tiêu tiếp theo là chúng tôi
Ngay từ trước đó, ở Ukraina đã xuất hiện cái gọi là “Trung tâm Khoa học-Công nghệ Ukraina” (Science and Technology Center in Ukraine - STCU). STCU là tổ chức quốc tế nhận tài trợ chủ yếu từ Chính phủ Hoa Kỳ, ở Ukraina các nhân viên của tổ chức này có quy chế ngoại giao. Trung tâm chính thức hỗ trợ các dự án của các nhà khoa học trước đây từng tham gia vào các chương trình của Liên Xô về chế tạo vũ khí hủy diệt hàng loạt. Trong 20 năm lại đây, STCU đã đầu tư 285 triệu USD để tài trợ và quản lý 1.850 dự án trên khắp thế giới.
Trong khuôn khổ chương trình ngăn chặn phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, công việc bắt đầu tiến hành từ năm 1991. Mục tiêu đã nêu là hiệp lực thúc đẩy bảo quản an toàn và thanh lý vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học cũng như các phương tiện vận chuyển những vũ khí này ở các nước thuộc Liên Xô cũ và việc sử dụng các nhà khoa học tham gia chế tạo vũ khí hủy diệt hàng loạt. Vì rằng Ukraina, Belarus và Kazakhstan đã thanh lý số đầu đạn hạt nhân của họ, về thực chất chương trình đã kết thúc vào năm 2013.
Thế nhưng hồi năm ngoái, tại Quốc hội Hoa Kỳ đã đưa ra dự luật cập nhật chương trình, do dường như có những mối đe dọa mới về phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Tuy nhiên, theo dữ liệu của trang web Mua sắm Công của Liên bang, chương trình này không chấm dứt ở Ukraina cả sau năm 2012. Năm 2013, công ty Raytheon Technical Services Company LLC đã trở thành một trong những nhà thầu của DTRA thực hiện dự án này trong nước. Giá thành hợp đồng là 43,9 triệu USD.
Theo dữ liệu từ trang web Mua sắm Công của Liên bang, vào tháng 8 năm 2017, công ty Mỹ đã kịp cung cấp dịch vụ khoa học và kỹ thuật trị giá 42,4 triệu USD.
Vào năm 2016, bản thân STCU đã giành được hợp đồng 5 năm của DTRA cho các dịch vụ khoa học và kỹ thuật với giá 10 triệu USD. Hiện vẫn chưa rõ STCU đang làm gì. Sự xuất hiện các phòng thí nghiệm sinh học của Mỹ ở Ukraina và tài trợ cho các dự án STCU trùng hợp với việc bùng phát các bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng ở đất nước này.
Ví dụ, một trong những phòng thí nghiệm của Lầu Năm Góc bố trí tại Kharkov, nơi vào tháng 1 năm 2016 ít nhất có 20 binh sĩ Ukraina tử vong trong vòng hai ngày vì một loại virus giống như bệnh cúm. Đến tháng 3 năm 2016, 364 trường hợp tử vong ghi nhận trên khắp Ukraina. Nguyên nhân của 81% số ca tử vong là cúm lợn A (H1N1) pdm09, cùng một chủng đã gây ra đại dịch toàn cầu năm 2009.
Chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraina
Mối nguy bên cổng. Ở Ukraina có hàng chục cơ sở thí nghiệm sinh học do Hoa Kỳ tạo lập
Thời gian gần đây, ở vùng đông-nam Ukraina, nơi có mấy phòng thí nghiệm sinh học của Lầu Năm Góc, đang lây lan căn bệnh nhiễm trùng đáng ngờ khác là viêm gan A. Cho đến nay vẫn chưa rõ nguyên nhân phát bệnh.
Năm 2011, đã bùng phát đợt dịch tả ở Ukraina. 33 người nhập viện vì tiêu chảy. Còn trong năm 2014, hơn 800 người trên cả nước nhận chẩn đoán mắc bệnh tả.
Sự trùng hợp giữa hoạt tính của Lầu Năm Góc ở Ukraina và bùng phát các bệnh truyền nhiễm là điều đáng ngờ, bởi từ lâu các công ty làm việc theo hợp đồng với các cơ cấu thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ ở Ukraina đã tham gia nghiên cứu các bệnh lây nhiễm phục vụ mục đích quân sự. Chẳng hạn, Southern Research Institute có dự án về bệnh tả, cũng như virus cúm và Zika, là những mầm bệnh có tầm quan trọng về mặt quân sự đối với Lầu Năm Góc.
Cùng với Southern Research Institute, các phòng thí nghiệm ở Ukraina chịu sự điều hành của công ty Black & Veatch và Metabiota.
Công ty Black & Veatch đã giành được hai hợp đồng 5 năm của DTRA trị giá 198,7 triệu USD để xây dựng và vận hành hệ thống phòng thí nghiệm sinh học ở Ukraina, Đức, Azerbaijan, Cameroon, Thái Lan, Ethiopia, Việt Nam và Armenia.
Trang web Mua sắm Liên bang cho biết rằng Black & Veatch có cam kết nghĩa vụ với Cơ quan Giảm thiểu Đe dọa An ninh (DTRA) theo «Chương trình Tham gia chung về sinh học» chỉ riêng ở Ukraina với số tiền 140 triệu USD kể từ năm 2013. Trong đó phần công việc trị giá 77 triệu USD hiện còn chưa hoàn thành.
Năm 2014, công ty Metabiota chuyên xác định, theo dõi và phân tích các đợt bùng phát dịch bệnh tiềm ẩn, đã ký hợp đồng liên bang trị giá 18,4 triệu USD với tư cách là nhà thầu phụ của Black & Veatch ở Gruzia và Ukraina. Theo thông báo về công việc mà Black & Veatch đăng tải, cặp đôi công ty này chia sẻ một văn phòng ở Kiev.
Southern Research Institute thành nhà thầu phụ cơ bản tại Ukraina từ năm 2008. Ngoài ra, cũng tổ chức này trước đây từng là nhà thầu chính của Lầu Năm Góc về chương trình vũ khí sinh học. Từ năm 1951 đến năm 1962, các chuyên gia của tổ chức đã tham gia nghiên cứu và điều chế tác nhân sinh học (còn gọi là tác nhân đe dọa sinh học, tác nhân chiến tranh sinh học, vũ khí sinh học, hoặc bioweapon) theo 16 hợp đồng. Năm 2001, Southern Research Institute trở thành nhà thầu phụ của Lầu Năm Góc về nghiên cứu bệnh than. Nhà thầu khi đó là công ty Advanced Biosystems, mà Chủ tịch đương thời là Ken Alibek (cựu chuyên gia vi sinh vật Xô-viết và chuyên gia về vũ khí sinh học từ Kazakhstan sang Mỹ năm 1992). Southern Research Institute đã lobby-vận động hành lang trong Quốc hội và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ để nghiên cứu và sáng chế dành cho tình báo Hoa Kỳ. Hoạt tính này diễn ra đồng thời với sự xuất hiện các phòng thí nghiệm sinh học ở Ukraina và các nước khác thuộc Liên Xô cũ.
Chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraina
Phòng thí nghiệm sinh học ở Ukraina dẫn đến bùng phát dịch bệnh nguy hiểm
Southern Research Institute đã trả 250.000 USD phí vận động hành lang cho Thượng nghị sĩ Jeff Sessions (hiện là Trưởng Công tố Hoa Kỳ) vào năm 2008-2009, khi Viện nhận được mấy hợp đồng liên bang. Trong khoảng mười năm từ 2006 đến 2016, Southern Research Institute đã chi 1,28 triệu USD cho khâu vận động hành lang trong Thượng viện, Hạ viện, Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng.
Black & Veatch là công ty kỹ thuật lớn nhất được thành lập năm 1915 tại Kansas City bang Missouri, hiện đóng trụ sở chính tại Overland Park bang Kansas. Chuyên môn sâu chính thức là khai thác khoáng sản vùng núi, trung tâm dữ liệu, đô thị thông minh, ngân hàng và thị trường tài chính.
Vũ khí hóa học
Năm 2020, Black & Veatch là công ty lớn thứ 7 tại Hoa Kỳ, năm 2020 với doanh thu 3,7 tỷ USD là công ty tư nhân chiếm vị trí thứ 123 ở Hoa Kỳ theo phương án xếp hạng của Forbes.
Black & Veatch có hơn 100 văn phòng trên khắp thế giới và đã thực hiện dự án tại hơn 100 nước trên sáu châu lục. Kể từ thời điểm thành lập, hoạt động của công ty gắn bó chặt chẽ với quân đội và cơ quan đặc nhiệm Hoa Kỳ, dự án lớn đầu tiên là Camp Robinson ở Little Rock bang Arkansas và các chủ thể quân sự lớn khác ở miền Trung Tây. Hiện tại có thông tin cho rằng Black & Veatch là một trong 6 công ty sẽ cung cấp dịch vụ về thiết kế, quy hoạch, bảo vệ môi trường và kiểm tra xây dựng cho dự án tại các chủ thể quân sự ở Đức, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Bỉ và Hà Lan.
Dành cho Quân đoàn của Khu vực Châu Âu đóng trụ sở tại Đức, sẽ tiến hành hoạt động xây dựng quân sự (MILCON), hỗ trợ, khôi phục và hiện đại hóa (SRM), củng cố cơ sở hạ tầng Châu Âu (EIC) và sáng kiến Châu Âu về ​​răn đe (EDI) trong khu vực hợp đồng trách nhiệm (AOR). Cũng công ty này phát triển chương trình về sắp xếp việc làm cho các cựu chiến binh và cựu nhân viên quân sự.
Thông tin này có xác nhận từ nhiều nguồn khác nhau.
Biden: Việc chặn đường bay của tên lửa Kinzhal là hầu như không thể
Ví dụ, vào năm 2020, xuất hiện tin bổ nhiệm Thiếu tướng Lục quân Hoa Kỳ Richard Kaiser làm Giám đốc Liên bang về phát triển của Black & Veatch. Với thâm niên hơn 33 năm phục vụ tại ngũ và Quân đoàn Kỹ thuật Hoa Kỳ (USACE), tướng Kaiser có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý các chương trình nhiều tỷ USD trong nước và quốc tế về cơ sở hạ tầng, xây dựng quân sự và bảo vệ môi trường. Đường công danh của ông này cũng bao gồm việc phục vụ với tư cách chỉ huy Sư đoàn Thung lũng Mississippi; Tư lệnh, Bộ Chỉ huy hỗn hợp Chuyển tiếp về đảm bảo an ninh ở Afghanistan; và chỉ huy sư đoàn Ngũ Đại Hồ Great Lakes/sông Ohio của USACE.
Southern Research Institute thoạt đầu do Thomas Martin thành lập tại Birmingham bang Alabama ngày 11 tháng 10 năm 1941 với tên gọi là Viện Nghiên cứu Alabama. Mặc dù Martin được bổ nhiệm làm Chủ tịch của tổ chức mới thành lập vào tháng 12 năm 1941, hoạt động của cơ sở này đã bị đình chỉ sau cuộc tấn công Trân Châu Cảng và bắt đầu sự can dự của Hoa Kỳ vào Thế chiến II.
Hai năm sau, vào tháng 12 năm 1943, với sự hỗ trợ từ phía Công ty Điện lực Alabama (Alabama Power Company), Martin một lần nữa thuê các thủ lĩnh công nghiệp của Alabama và nhận được hơn 100.000 USD dưới dạng quyên góp từ thiện.
Công ty Điện lực Alabama cam kết chi thêm 15.000 USD một năm trong 5 năm, tổng cộng là 75.000 USD, đủ để tài trợ cho các gian phòng thí nghiệm cũng như thuê nghiên cứu viên và nhân sự. Năm sau, 1944, đã có quyết định đổi tên từ Viện Nghiên cứu Alabama thành Southern Research Institute. Vào khoảng thời gian này, Southern Research Institute đã thuê vị giám đốc đầu tiên của mình là Wilbur Lazier.
Trong hơn 70 năm qua, tổ chức đã tham gia hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực quốc phòng, làm việc về chuyên môn vật liệu học và hệ thống kỹ thuật. Theo lời Chủ tịch và CEO của tổ chức nghiên cứu, thành phần then chốt trên bình diện kỹ thuật dành cho Bộ Quốc phòng là công việc mà Southern Research Institute đảm trách.
Từ cuối những năm 1950, Southern Research Institute bắt đầu làm việc với Phòng thí nghiệm Vật liệu Nhiệt độ Cao. Một số chương trình đầu tiên của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ bao gồm sáng chế vật liệu chịu nhiệt cao dành cho các hệ thống tên lửa quay trở lại bầu khí quyển Trái đất.
Trong chặng dài nhiều thập kỷ, công việc bao gồm nhiều hướng khác nhau, chẳng hạn như phát triển hệ thống tên lửa đạn đạo, phân tích vật liệu và cấu trúc của các phương tiện siêu thanh, cũng như các cảm biến khoang tàu và hệ thống trục truyền cardan ổn định. Hiện tại, công ty có các hợp đồng phát triển hệ thống thông tin tình báo, thu thập dữ liệu, liên lạc, ngoài ra còn có hợp đồng về nghiên cứu ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động chiến sự.
Thiếu tướng N. Lee S. Price (trong hội đồng Giám đốc công ty) là lãnh đạo cấp cao với 40 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực CNTT, các chiến dịch toàn cầu và hậu cần, mua sắm công và quản lý chương trình. Bà nhập ngũ với tư cách là binh nhất khi chỉ có 2% nhân sự quân đội là nữ và nghỉ hưu 38 năm sau với hàm Thiếu tướng. Sau khi bà nghỉ hưu vào năm 2014, chỉ có 7 phụ nữ được thăng hàm đến cấp bậc cao hơn. Bà để lại thành quả đột phá công nghệ trong lực lượng vũ trang Hoa Kỳ hỗ trợ cho các chiến dịch quân sự toàn cầu tại nhiều khu vực chiến sự.
Chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraina
BQP Nga: Kiev chuẩn bị các hành động khiêu khích với việc sử dụng chất độc hóa học
Christopher Tanner, lãnh đạo Ban Kỹ thuật. Chín năm phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ, chỉ huy hai đại đội bộ binh. Phụ trách lập kế hoạch chiến dịch cho lực lượng 7.000 người, đồng thời cũng là liên lạc viên và cố vấn hoạt động cho chỉ huy Lực lượng đặc nhiệm quốc tế liên hợp giám sát miền đông Afghanistan. Lập kế hoạch và chỉ đạo hoạt động chiến sự quy mô lớn, trong đó có chiến dịch đổ bộ tấn công và biên giới. Trong thời gian triển khai ở Iraq và Afghanistan, ông này tham gia hoạt động thông tin. Mức độ quyền hạn: tuyệt mật với quyền truy cập các thông tin bí mật.
John C. McCullough, chuyên gia kiểm soát xuất khẩu tại Southern Research. McCullough phục vụ trong Lực lượng Vệ binh Quốc gia Không quân Alabama suốt 32 năm, trong đó có 24 năm là kỹ sư xây dựng. Là thành viên tham gia chiến dịch «Noble Eagle» cũng như các chiến dịch «Southern Watch» và «Iraqi Freedom».
Nhiều khả năng tính khép kín của công ty có thể là do sự gần gũi với gia đình Tổng thống Hoa Kỳ. Được thành lập vào năm 2008, Metabiota nghiên cứu và đánh giá các mối đe dọa từ bệnh truyền nhiễm đối với Chính phủ, các hãng bảo hiểm và các nhà chăn nuôi, với mục đích số hóa dữ liệu vi sinh vật trên toàn thế giới và chủ động ngăn chặn đà lây lan của dịch bệnh.
Trong giai đoạn đầu tiên, nhận tài trợ từ Rosemont Seneca Technology Partners (RSTP), Hunter Biden con trai Tổng thống Hoa Kỳ, chi nhánh của Rosemont Capital, là một quỹ đầu tư do Biden và con trai riêng của John Kerry thành lập năm 2009 trong đó Biden giữ chức Giám đốc điều hành.
Trong số các công ty liệt kê ở phiên bản lưu trữ danh mục đầu tư, có Metabiota. Các báo cáo tài chính cho thấy RSTP dẫn đầu vòng gọi vốn đầu tiên, với tổng trị giá 30 triệu USD. Cựu giám đốc điều hành và đồng sáng lập RSTP Neil Callahan có chân trong Hội đồng tham vấn của Metabiota.
Kể từ năm 2014, Metabiota là đối tác của EcoHealth Alliance trong khuôn khổ dự án «PREDICT» của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), hướng tới «dự đoán và ngăn chặn mối đe dọa toàn cầu của các căn bệnh mới». Trong khuôn khổ nỗ lực này, các nhà nghiên cứu từ Metabiota, EcoHealth Alliance và Viện Virus Vũ Hán đã cùng thực hiện công trình nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm của dơi ở Trung Quốc.
Các nhà nghiên cứu từ EcoHealth Alliance và Metabiota cũng đã cùng nhau làm việc trong loạt bài thuyết trình về «cách sống an toàn với dơi» và nghiên cứu mối liên hệ giữa các đợt bùng phát bệnh truyền nhiễm với các đối tượng của nạn buôn bán động vật hoang dã.
Ngoài liên hệ với EcoHealth Alliance, Metabiota cũng đã bị lôi kéo vào cuộc tranh cãi vì phản ứng «thiếu thận trọng» của nước Mỹ đối với Ebola. Theo báo cáo, công ty đã làm cho «tình hình vốn đã hỗn loạn» trở nên tồi tệ hơn, khiến các nhân vật trọng trách của Tổ chức Y tế Thế giới chỉ trích công ty.
Vào tháng 4 năm 2021, USAID của Joe Biden công bố một sáng kiến ​​mới do EcoHealth Alliance dẫn đầu về theo dõi các bệnh truyền nhiễm mới có tiềm năng phát triển thành đại dịch. Trong dự án do những người đóng thuế tài trợ cũng có Metabiota tham gia, mà các nhà nghiên cứu được liệt kê là tác giả các bài báo tháng 6 năm 2021 liên quan đến giám sát coronavirus ở châu Phi.
Trong hơn một thập kỷ EcoHealth Alliance được Google tài trợ. Google cũng có gắn kết với Metabiota thông qua Cơ quan Tình báo Trung ương. Ngoài Hunter Biden, Google và Lầu Năm Góc, Metabiota còn duy trì quan hệ làm việc với vỏ bọc nổi tiếng của CIA là In-Q-Tel. Do CIA thành lập vào năm 1999 như là «công ty liên doanh đầu tiên do Nhà nước tài trợ», In-Q-Tel đã gây tranh cãi ngay từ buổi đầu.
Chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraina
Từ đầu chiến dịch đặc biệt, Ukraina đã cài đặt khoảng 420 quả thủy lôi trên đường vào hải cảng
«Bằng cách kết hợp dữ liệu từ các nguồn mở và mô hình phức tạp về dịch bệnh, Metabiota mang đến cơ hội để hiểu rõ hơn về nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm», - một trong những nhân viên hàng đầu của In-Q-Tel cho biết khi các nhóm thống nhất với nhau.
Trước đây là Peleus và In-Q-It, là công ty đầu tư mạo hiểm phi lợi nhuận của Mỹ đặt trụ sở tại Arlington, bang Virginia.
Thoạt kỳ thuỷ gọi là Peleus và nổi danh là In-Q-It, In-Q-Tel do Norm Augustine thành lập, người vốn là cựu CEO của Lockheed Martin và Gilman Louis rồi đảm nhiệm vị trí CEO đầu tiên của In-Q-Tel.
Sứ mệnh của In-Q-Tel bao hàm ở chỗ xác định và đầu tư vào các công ty phát triển công nghệ tiên tiến phục vụ cho lợi ích an ninh quốc gia của Hoa Kỳ. Truy nguồn của tập đoàn có thể đến Ruth A. David, quan chức đứng đầu Cục Khoa học và Công nghệ của Cơ quan Tình báo Trung ương trong những năm 1990 và thúc đẩy tầm quan trọng của việc phát triển công nghệ thông tin nhanh chóng dành cho CIA. In-Q-Tel định hướng tập trung vào ba lĩnh vực công nghệ thương mại: chương trình phần mềm, cơ sở hạ tầng và khoa học vật liệu.
Ngày 15 tháng 11 năm 2005, In-Q-Tel bán 5.636 cổ phiếu Google với giá hơn 2,2 triệu USD. Số cổ phần này đến từ kết quả Google mua lại công ty Keyhole, Inc, chuyên về phần mềm lập bản đồ vệ tinh do CIA tài trợ, hiện nay nổi tiếng với tên gọi Google Earth.
Tháng 8 năm 2006, In-Q-Tel đã xem xét hơn 5.800 kế hoạch kinh doanh và đầu tư khoảng 150 triệu USD vào hơn 90 công ty. Năm 2016, tập đoàn nhận được tài trợ ít nhất là 120 triệu USD mỗi năm, chủ yếu từ CIA, nhưng còn từ NSA, FBI và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ.
Tập đoàn liệt kê hầu hết các khoản đầu tư của mình trên trang web riêng. In-Q-Tel hoạt động một phần công khai; tuy nhiên, nó có những sản phẩm gì và được sử dụng như thế nào – đó là điều tối mật. Những sản phẩm nổi tiếng nhất của tập đoàn là hệ thống phân tích dành cho tình báo và phân tích dữ liệu Palantir Technologies, và Wickr - một ứng dụng trao đổi tin nhắn mật đã được mã hóa.
Chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraina
Bộ Quốc phòng Nga: SBU chuẩn bị một vụ khiêu khích với việc sử dụng các chất độc hại
Thảo luận